Tư tưởng quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một nét đặc sắc, trổi, đề đạt sự thống nhất, nhất quán trong tư duy và hành động, trên cơ sở có sự kế thừa giữa giá trị truyền thống và hiện đại

Và đến thế kỷ XX, xuất hiện nhà quân sự tài ba, lỗi lạc - Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Đó là nghệ thuật đánh lâu dài để chuyển hóa so sánh lực lượng khi lực lượng ban sơ của ta còn nhỏ yếu; đó là nghệ thuật chớp cơ hội chiến lược; đó là nghệ thuật xây dựng, tổ chức và dùng lực lượng ba thứ quân, nghệ thuật tổ chức, dùng quân đội, từ quy mô nhỏ bé ban sơ tới hình thành thực tại các quân binh chủng, các binh đoàn chủ lực; đó là nghệ thuật luôn chủ động về chiến lược và chiến dịch, phân tích và đánh giá đúng tình hình với tư duy chiến lược sắc sảo, suy đoán đúng thời cơ, dự đoán đúng mưu mô và dịp của địch để đề ra phương án, cách đánh cho phù hợp, hiệu quả như: Đưa pháo binh chiếm lĩnh vị trí cao của địa hình, chế áp pháo địch; vây lấn, vận động tấn công, phối hợp với chốt, chặn đầu khóa đuôi để xoá sổ địch theo dự kiến.
Nhưng với khả năng tuấn kiệt, phân tách sâu sắc tình hình, tư duy nhạy bén, linh hoạt, sau 10 ngày cân nhắc, nghĩ suy, ông đã quyết định trái lại là "đánh chắc, thắng chắc", mục đích là đảm bảo chắc thắng và ít tổn thất, thương vong cho chiến sĩ.
Ba là, tin nhân dân và biết dựa vào nhân dân. Trong lịch sử dân tộc Việt Nam đã xuất hiện nhiều vị tướng tài tình lỗi lạc ghi dấu ấn hiển hách như Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung.
Không phải tình cờ mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp được ví như "một cây đại thụ rợp bóng nhân bản".
Thế nhưng, bên cạnh tư tưởng ấy, ở Võ Nguyên Giáp không phải là "thắng bằng mọi giá", mà là quyết chiến, quyết thắng trên cơ sở hạn chế thấp nhất sự hy sinh, mất mát của quân nhân. Đại tướng là một vị tướng quán triệt sâu sắc nhất tư tưởng "lấy khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc".
Là người chỉ huy, nhưng ông còn như một người cha, người anh, người bác, người chú, người đồng nghiệp, xoành xoạch gần gũi với bộ đội, với mọi người. Ở ông luôn trình bày một phẩm chất vượt trội, đó là đức "nhẫn". Bốn là, tư tưởng quân sự nhưng mang đậm chất nhân bản, nhân đạo và hòa bình.
Trên cơ sở đó, ông đã biết áp dụng sáng tạo vào cảnh ngộ thực tế ở nước ta. Có thể khẳng định, tư tưởng quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là sự kế thừa truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, phối hợp với hệ thống lý luận quân sự của chủ nghĩa Mác - Lênin và tinh hoa quân sự Đông - Tây, đặc biệt, ông rất đam mê nghiên cứu về Na-pô-lê-ông và cách mạng Pháp.
Đây là quyết định anh dũng, sáng suốt của Đại tướng, nếu như theo phương án ban sơ thì chúng ta sẽ bị tổn thất hết sức to lớn, thậm chí còn thất bại thảm hại trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau này, Đại tướng Lê Trọng Tấn, nguyên trưởng đoàn Đại đoàn 312 và nhiều tướng lĩnh tham dự chiến dịch Điện Biên Phủ đã phát biểu: "Nếu không có quyết định chuyển phương châm ngày đó thì phần nhiều chúng tôi không có mặt trong kháng chiến chống Mỹ".
Cái gì cần nói ra, cái gì cần làm, quờ quạng đều vì lợi. Tư tưởng và lý luận miêu tả về vũ trang nhân dân cách mệnh, xây dựng quân đội dân chúng, về khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh du kích, chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước, về chiến tranh dân chúng trong thời đại mới. Trong kháng chiến chống Pháp, chính ông đã khiến thực dân Pháp phải thất bại trong chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh", khi đánh vào Hà Nội cuối năm 1946 và Việt Bắc Thu - Đông 1947; tổ chức chiến thắng chiến dịch Biên giới 1950, với mưu mẹo "đánh điểm, diệt viện" đã buộc tướng Na-va phải xé lẻ lực lượng để ứng phó trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ là người có tài cầm quân, mà còn là một nhà lý luận quân sự uyên thâm, tác giả hàng đầu sách về thuyết giáo quân sự Việt Nam đương đại. Đặc biệt, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, các cố vấn nước ngoài muốn dùng chiến thuật "đánh nhanh, thắng nhanh", dù phải đổ bao nhiêu xương máu.
Ông là sự kết tinh tinh hoa quân sự của các bậc tiền bối để làm nên những thắng lợi lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, khiến cả thế giới phải nghiêng mình kính nể trong các cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, chống Pháp và chống Mỹ. Của dân tộc. Suy đoán địch sẽ rút khỏi Tây Nguyên, Đại tướng đã kịp thời nắm bắt nhịp chiến lược, yêu cầu chuyển sang kế hoạch sớm phóng thích miền Nam trong năm 1975, kịp thời mở các chiến dịch Huế - Đà Nẵng, chỉ đạo giải phóng quần đảo Trường Sa, chuẩn y đề nghị thành lập cánh quân phía Đông và ra mệnh lệnh: "Thần tốc, thần tốc, thần tốc hơn nữa! táo bạo, táo tợn, táo bạo hơn nữa!" cho toàn quân tiến lên, cùng với 4 cánh quân khác tiến về Sài Gòn giải phóng miền Nam, hợp nhất giang sơn.
Hai là, nghệ thuật đánh điểm, diệt viện; biết chọn và chớp thời cơ nổ súng tấn công tiêu diệt địch. Đó chính là tư tưởng quân sự mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc trong con người Đại tướng. Những tư tưởng quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là cơ sở quan yếu cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiếp phát huy xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo vệ chắc chắn Tổ quốc Việt Nam từng lớp chủ nghĩa trong mọi cảnh huống

Chúng ta biết rằng, trong cuộc đời của Đại tướng có những lúc, có những thử thách, nhưng ông đều vượt qua vớ. Chiến thắng mùa Xuân 1975 thêm một lần nữa khẳng định hào kiệt nghệ thuật quân sự bẩm tính của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Chữ "nhẫn" hiểu một cách sâu xa như thế đó. Sau đó, với nhãn quan của một tài năng quân sự, phân tách sâu sắc tình hình địch - ta, ông đã thực hành phương châm tránh những mũi nhọn của địch và đánh vào chỗ yếu của địch.
Ông quý từng giọt máu của người đội viên khi xung trận. Nhờ vậy, cách mệnh miền Nam đã chuyển từ thế gìn giữ lực lượng sang thế tấn công, góp phần to lớn vào một loạt chiến thắng sau này như: Đường 9 - Nam Lào, Xuân - Hè 1972, Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không, Đại thắng mùa Xuân năm 1975. # Được xây dựng trên nền tảng "cả nước đánh giặc, toàn dân đánh giặc".
Một nền chiến tranh quần chúng. Tư tưởng đó có thể đại quát ở một số đặc trưng cơ bản sau đây: Một là, nghệ thuật tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu; đánh chắc, tiến chắc, không chắc thắng không đánh.
Chẳng những thế, trong các trận đánh, ông không có tư tưởng "tiêu diệt sạch sành sanh, đánh đến tên giặc chung cuộc".
Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Sở chỉ huy Quân chủng Phòng không - Không quân ngày 28/12/1972. Thông thường, một vị tướng cầm quân khi ra trận, cái đích bao giờ cũng phải là "quyết đánh, quyết thắng".
Qua đó, có sự bổ sung, phát triển nghệ thuật quân sự ăn nhập với thời đại mới. Ngoài ra, Đại tướng còn viết nhiều công trình mang tính giá trị thời đại như: Bài giảng về đường lối quân sự của Đảng; nhiệm vụ phát triển nền khoa học quân sự Việt Nam.
Ảnh: Tư Liệu Đối với bản thân mình, Đại tướng là người quán triệt sâu sắc lời dạy của Bác Hồ "dĩ công vi thường", suốt đời phục vụ quân đội, phục vụ nhân dân, phục vụ sự nghiệp cách mạng.
Khi xây dựng một kế hoạch tác chiến, trước mỗi trận đánh, ông cũng đau đáu làm sao để giảm đến mức thấp nhất tổn thất cho bộ đội. Ngay tướng Mỹ Oét-mo-len đã từng phải thốt lên rằng: "Võ Nguyên Giáp là một vị tướng tài giỏi, là nhà lãnh đạo kiệt xuất mà tôi chưa từng gặp". Trong bối cảnh Việt Nam khác với các nước, luôn phải tranh đấu với các thần thế ngoại xâm có tiềm lực kinh tế và quân sự vượt trội hơn hẳn, chúng ta luôn xáp với tư tưởng "lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh" của truyền thống dân tộc.
Sau khi điểm đúng tử huyệt Buôn Ma Thuột, quân đội ngụy hoảng loạn và mau chóng tan rã. Điều này, hoàn toàn đúng và hạp với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thực tại cho thấy, ông là một trong những kiến trúc sư của đường lối chiến tranh quần chúng.
#, Kháng chiến toàn dân toàn diện, dựa vào sức mình là chính. "Nhẫn" ở đây không phải tiêu cực, chịu đựng, mà chữ "nhẫn" ở đây là biết nói ra lúc nào, nói như thế nào, làm lúc nào, quyết định cái gì, lúc nào, quyết định như thế nào. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đại tướng là một trong những người góp phần quan yếu vào chủ trương chiến lược của Đảng trong Nghị quyết Trung ương 15: "Lấy sức mạnh của nhân dân, dựa vào lực lượng chính trị của nhân dân là cốt yếu, phối hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền cai trị của đế quốc và ngụy quyền Sài Gòn".
Nguyễn Huy Đại Email Print Góp ý. Đặc biệt, chiến tranh dân chúng Việt Nam đích thực đã trở nên nghệ thuật độc đáo của Việt Nam.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét